Hiển thị các bài đăng có nhãn NHỮNG BÀI HỌC TỪ KINH THÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NHỮNG BÀI HỌC TỪ KINH THÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

Như là thân cát bụi

Như là thân cát bụi

“Kiếp phù sinh tháng ngày vắn vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình." (Tv 103, 15-16)
Nếu ai than rằng, chẳng có thời giờ để cầu nguyện và dự thánh lễ, không có thời giờ để tĩnh tâm và xưng tội, xin hãy nghe bài thơ sau đây trong “Sách Sự Sống”:
“Tôi quì cầu nguyện, nhưng chẳng được lâu; tôi có nhiều việc phải làm. Tôi phải cấp tốc đi làm vì hóa đơn đòi tiền chồng chất. Tôi đọc một kinh, rồi vội vã đi làm. Thế là việc bổn phận của người tín hữu, tôi đã làm xong. Cả một ngày sống, tôi không có giờ để chào hỏi ai, cũng chẳng có giờ để nói về Chúa cho bạn bè tôi”.
“Tôi luôn miệng nói: Nhiều chuyện phải làm quá! Không có giờ để lo việc linh hồn. Nhưng cuối cùng, giờ chết cũng đến. Tôi phải ra trình diện trước toà Chúa, đôi mắt cúi xuống, vì Người đang cầm trên tay một quyển sách, Sách Sự Sống. Người nhìn vào sách và nói: "Cha không tìm thấy tên con, vì có lần Cha dự tính viết tên con xuống, nhưng Cha chẳng có thời giờ’."
Giả sử khi phải ra trình diện Chúa trong ngày sau hết của đời mình, mà tôi nghe được câu nói ấy của Chúa thì tính sao đây?
Còn tính sao nữa, khi mà quỹ thời gian đã hết. Có muốn lập công cũng không được, có muốn sám hối cũng không xong. Tất cả đã trở nên quá muộn! Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Do Thái viết: “Thân phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét" (Dt 9,27 ).
Ông Ađam sống đến 900 tuổi rồi cũng chết. Ông Sết hưởng thọ 912 tuổi cũng từ trần. Ông Hênóc sống 905 tuổi cũng phải từ giã cõi đời. Hơn 6 tỷ người đang sống trên mặt đất này cũng sẽ ra đi trong vòng một trăm năm nữa, không ai sẽ thấy ánh mặt trời của thế kỷ thứ 22. Sách Giảng Viên có câu: "Có thời để sinh ra, có thời để lìa đời" (Gv 3,2). Tác giả Thánh Vịnh cũng nhắc nhở: "Kiếp phù sinh tháng ngày vắn vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình" (Tv 103,15-16).
Trần Thu Miên có bài thơ như sau:
Như loài ve sầu chết
Sau một đời ngủ say
Ta rồi đi cũng đến
Nơi chốn về thiên thu.
Như là thân cát bụi
Khi về với cỏ cây
Bao nhiêu điều mong ước
Sẽ tan vào hư không.
Nếu Chúa đã đưa chúng ta vào cõi đời này, thì Người cũng sẽ đem chúng ta ra khỏi thế gian này. Chỉ đáng tiếc cho những ai đã không dùng thời giờ Chúa ban, để chuẩn bị cho cuộc ra đi về nơi vĩnh cửu! Chỉ tội nghiệp cho ai mê mải tìm hoan lạc, mà quên đi cõi phúc trường sinh!
Vậy, để cho thời giờ trở nên hữu ích trong cuộc sống này, chúng ta hãy luôn sẵn sàng như năm cô trinh nữ khôn ngoan trong Kinh Thánh. Luôn chuẩn bị đèn dầu, sẵn sàng chờ đón Chúa đến. "Đèn" là niềm tin và "dầu" là tình yêu. Sống tin yêu là tin vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa, và yêu thương phục vụ tha nhân. Sống tin yêu là chúng ta đang chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc hạnh ngộ về với Thiên Chúa.
Sống tin yêu, chúng ta sẽ thấy cuộc đời mình đổi mới, an bình và hạnh phúc. Chúng ta sẽ chân thành hơn trong yêu thương, bác ái hơn trong lời nói, và nhân từ hơn trong từng cách cư xử. Chúng ta đang bước đi cùng với trăng sao.
Lạy Chúa, con có ít thời gian, nhưng lại có nhiều điều phải làm. Xin giúp con luôn tin tưởng nơi Chúa và yêu thương phục vụ anh em, để con được cùng Chúa vui hưởng hạnh phúc muôn đời, mà Chúa dành cho những ai kiên tâm sống đẹp lòng Chúa, cho đến hơi thở cuối cùng. Amen.

                                                                          Copy từ WTGPSG

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011

TRƯỜNG ĐỜI


“Ầu ơ, ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học mẹ đi trường đời”

Lời ru ầu ơ bên nôi của người mẹ vùng Nam Bộ thật thân thương trìu mến, đồng thời diễn tả một định nghĩa về cuộc đời: cuộc đời là một trường học. Quả thế, cuộc đời là nơi dạy chúng ta thêm kinh nghiệm trưởng thành. Nơi trường đời, mỗi người cần phải cố gắng vươn lên, không được phép nản chí sờn lòng trước thất bại, dù đó là thất bại chua cay phũ phàng.
1-Trường học
Một khi đã bước vào cõi nhân sinh, chẳng có ai ngay từ ban đầu đã là người hoàn hảo. Cuộc sống đời này là một cuộc phấn đấu không ngừng để vượt lên mọi khó khăn. Cắp sách đến trường là một việc khó nhọc ngại ngùng đối với mọi lứa tuổi. Những ngày đầu tới trường quả là một cực hình đối với những cô bé cậu bé phải xa cha mẹ để bước vào môi trường xa lạ. Với thời gian, các em được học hành những kiến thức cần thiết để thành người. Tuổi học trò là một giai đoạn đẹp của cuộc sống. Đây là thời điểm nhân cách của các em được từng bước hình thành. Trong xã hội hiện đại hôm nay, vẫn tồn tại những “cậu ấm, cô chiêu” con nhà giàu, ỷ thế cậy quyền cha mẹ, chẳng chịu học hành. Vì thế mới xuất hiện những tấm bằng mua. Đây không phải là bằng giả mà là bằng thật hẳn hoi. Chỉ có kiến thức là giả mà thôi. Đối với những người có kiến thức giả thì tương lai và sự nghiệp của họ cũng chỉ là hão huyền, vô thực. Bên cạnh một số ít con nhà giàu cậy quyền cha mẹ, có rất nhiều học sinh, sinh viên đã can đảm vượt khó, phấn đấu học hành. Có những người cha người mẹ đáng khâm phục, suốt đời một nắng hai sương, long đong tần tảo, nhưng vẫn đầu tư cho con học đại học, đem lại sự thành đạt và một tương lai vững vàng cho con cái.
Thế rồi giai đoạn học đường cũng đến hồi kết thúc. Các em học sinh chia tay vào mùa hoa phượng, trong sự lưu luyến của tình bạn và âu lo về sự nghiệp tương lai. Nhiều bạn trẻ luyến tiếc tuổi học trò, nhưng không thể níu kéo thời gian. Họ chỉ còn giữ lại những kỷ niệm tốt đẹp của một thời vô tư đã qua. Kết thúc trường học, các em phải lo bước vào trường đời.
Môi trường giáo dục lành mạnh, những thày cô giáo tâm huyết trong sự nghiệp “trồng người”, sự cộng tác của các bậc phục huynh, đó là những yếu tố căn bản làm nên nhân cách con người của xã hội tương lai. Đã có nhiều tác giả lên tiếng về một nền giáo dục bất cập. Đã có nhiều vụ việc liên quan đến tư cách của nhà giáo, điển hình như vụ hiệu trưởng trường Phổ thông Trung học Việt Lâm (tỉnh Hà Giang) Sầm Đức Xương đã có hành động đồi bại với nữ sinh. Chúng ta ước mong và cùng cộng tác để những thế hệ tương lai được hưởng một nền giáo dục lành mạnh, đặt nền trên huấn luyện lương tâm đạo đức con người, “Tiên học lễ, hậu học văn”.
2 - Trường đời
Nếu ai lười biếng khi còn ở trường học, thì sẽ phải trả giá khi bước vào trường đời, vì trường đời rất khắt khe và nghiệt ngã. Ngôn ngữ bình dân gọi những thất bại trong cuộc sống là “học phí”. Một người thiếu kinh nghiệm kinh doanh mà liều lĩnh bước vào thương trường, sẽ phải trả “học phí” là thua lỗ nhiều khi đến khuynh gia bại sản. Một người thiếu năng lực mà dám đứng ở cương vị lãnh đạo, sẽ phải trả “học phí” là sự thất bại và mất hết uy tín. Như thế, một khi muốn thành đạt ở đời, chẳng có ai thoát khỏi việc học vấn, điều khác biệt chỉ là nơi chốn hay tên gọi của trường học mà thôi. Sự khắt khe đúng mức của cha mẹ đối với con cái là nhân tố quan trọng để đứa trẻ nên người. Sự nghiệt ngã của trường đời cũng là điều kiện thiết yếu để con người được tôi luyện. Như những học sinh khi ngồi ghế nhà trường luôn cần mẫn chuyên chăm học hỏi để trau dồi những kiến thức trước khi vào đời, mỗi người sống trong trường đời cũng phải thiện chí tiếp thu kinh nghiệm từ những người khôn ngoan, để có thể thêm nghị lực sống. “Thắng lợi không kiêu, thất bại không nản”, đó là bí quyết giúp ta thành công. “Học, hỏi, hiểu, hành”, đó là nấc thang giúp ta thăng tiến. “Nước chảy mãi mà không thôi thì lâu ngày thành sông lớn, người học mãi mà không thôi thì thành bậc hiền tài” (Sách Tính Lý). Sự kiên trì trong học hành là chìa khoá của thành đạt. Bằng lòng với mình trong say men chiến thắng làm con người mất chí khí vươn cao. Đừng quên rằng, nếu tôi chiến thắng hôm nay, tôi cũng có thể sẽ thất bại ngày mai. Như người lính ở chiến trường phải luôn thận trọng cảnh giác, con người sống giữa trần gian luôn phải tỉnh thức canh chừng. Thiếu cảnh giác sẽ dễ dàng thất bại, thiếu tỉnh thức sẽ chìm trong u mê. Người ta giỏi mấy cũng vẫn phải học, làm thầy trong lãnh vực này, nhưng lại phải làm trò trong lãnh vực kia. Không ai là toàn năng, trừ một mình Thiên Chúa. Chính vì thế, khi được “ném” vào lòng đời, con người bắt đầu cuộc-đời-học-vấn. Chỉ khi nào nhắm mắt xuôi tay thì họ mới thực sự “tốt nghiệp” trường đời. Tấm bằng cấp “tốt nghiệp trường đời” không phải do con người mà là chính Thiên Chúa phong tặng.
Trong trường đời mênh mông rộng lớn, ta có thể tìm thấy ở mọi nơi mọi lúc những người thày dạy chúng ta. Alfred de Vigny đã viết: “Tôi chưa bao giờ gặp một người nào mà tôi không tìm thấy ở họ một cái gì đáng cho tôi học hỏi”. Những kinh nghiệm của người già, những câu hỏi đơn sơ của người trẻ, những biến cố sự kiện xảy đến xung quanh chúng ta, xem ra như vô tình, mà lại dạy chúng ta những bài học rất thiết thực để giúp ta “thành người”.
Trường đời cũng dạy cho chúng ta sự mạnh dạn can đảm, vì lửa thử vàng, gian nan thử đức. Nếu không thử, làm sao biết sức mình. Một tác giả đã viết: “Có người suốt đời sợ hãi không dám bước ra ngoài vì sợ gãy chân, nhưng nếu còn hai chân mà chỉ ngồi trong nhà, thì có khác gì người có đôi chân đã gãy?”. Cũng có người lý luận: người không bao giờ thất bại là người chẳng bao giờ làm gì cả. Nhưng không làm được điều gì ích lợi cho đời, lại chẳng phải là một thất bại thê thảm đó sao? Nhiều người đã thành đạt vì họ dám nghĩ, dám làm, mặc dù nhiều khó khăn thử thách, họ vẫn cố gắng vươn lên.
Trong tiếng hát ru con trên đây, người mẹ thấy rõ cuộc đời long đong lận đận, nhưng bà không nản chí: “Khó đi mẹ dắt con đi. Con đi trường học mẹ đi trường đời”. Người mẹ đã can đảm bước vào đời, dẫu biết rằng những khó khăn thử thách đang chờ phía trước. Giữa cuộc đời đầy bon chen ấy, bà còn luôn đồng hành với con trên đường đi học, vì biết rằng, con của bà phải vào trường học trước khi vào trường đời.
3 - Trường Giêsu
Đức Giêsu đã đón nhận đau khổ trong sự tín thác vào Chúa Cha. Đối diện với biến cố thập giá đang đến gần, người cảm thấy lo sợ. Lời cầu nguyện của Người đã diễn tả sự lo sợ ấy: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này”. Trong tâm trạng lo buồn sợ hãi, Đức Giêsu tin chắc Chúa Cha ở luôn với Người. Người dành sự ưu tiên cho Chúa Cha, coi thánh ý của Chúa Cha là đích điểm tối thượng của đời Người. Chính sự xác tín này đã dẫn Người đến phần tiếp theo của lời cầu nguyện: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26 39). Đức Giêsu đã đón nhận thập giá, để biến đổi thập giá thành phương tiện cứu rỗi muôn dân.
Thánh Phaolô nói về Đức Giêsu như một “Học trò” xuất sắc của “trường đời”: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục…” (Dt 5,8). Chính trong đau khổ mà Đức Giêsu thấy giá trị của vâng phục. Nói cách khác, Người đã muốn dùng đau khổ để thể hiện sự tuân phục của Người đối với Chúa Cha.
Kinh nghiệm của Đức Giêsu không phải là vô nghĩa. Tác giả thư Do Thái viết tiếp: “Và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5,9). Đức Giêsu đã khởi đi từ kinh nghiệm trường đời để rồi chính Người trở nên trường học cho tất cả những ai muốn nên hoàn thiện: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Những ai học nơi mái trường Giêsu sẽ lĩnh hội được những kiến thức căn bản để làm người và làm con Chúa, vì tất cả mọi đức tính tốt lành đều đến từ sự khiêm nhường “Khiêm nhường là mẹ của các nhân đức”. Thánh Phaolô đã nói với chúng ta về sự khiêm nhường tự hạ của Đức Giêsu: “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình , vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).
Những tín hữu Kitô đang là những học trò trong mái trường Giêsu. Chính Người là thày dạy chúng ta. Đức Giêsu không chỉ dạy chúng ta bằng lời, nhưng chính bằng cả cuộc đời của Người. Người cũng không chỉ dạy chúng ta trong những giờ “lên lớp” ở giảng đường, nhưng Người luôn giáo huấn chúng ta mỗi phút giây của cuộc sống, nhờ đó, dù thức hay ngủ, dù làm việc hay vui chơi, cuộc đời chúng ta luôn thấm đượm tinh thần của Tin Mừng, vì “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
Vâng, chính trong mái trường Giêsu mà Bạn và tôi đang học hỏi và phấn đấu mỗi ngày. Xin cho chúng ta chuyên tâm học với Thày Giêsu, vì nơi Người chúng ta tìm được những Lời ban sự sống đời đời (x. Ga 7,68).
+Gm Giuse Vũ Văn Thiên
Giáo Phận Hải Phòng

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2011

KHIÊM NHƯỜNG VÀ TỰ KIÊU

SỰ LỢI HẠI CỦA KHIÊM NHƯỜNG VÀ TỰ KIÊU

1. Cách phán đoán của Đức Giêsu khác với cách của ta Là người Kitô hữu, không mấy ai không lấy làm lạ về cách phán đoán của Đức Giêsu khi đọc bài Tin Mừng (Lc 18,9-14) về dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người là Pharisêu, một người là thu thuế. Người Pharisêu tự hào khoe với Chúa về những điều tốt lành mình làm được, còn người thu thuế thì xấu hổ thú nhận tình trạng tội lỗi của mình. Qua lời cầu nguyện của hai người trong bài Tin Mừng, ta biết tất cả những điều tốt lành mà người Pharisêu khoe với Chúa rằng mình đã làm đều là sự thật , và tình trạng tội lỗi mà người thu thuế thú nhận trước mặt Chúa cũng đều là sự thật. Nếu để ta xét đoán, ta sẽ dễ cho rằng người Pharisêu kia mới là người công chính, còn người thu thuế đích thực là tội lỗi. Nhưng câu kết luận của Đức Giêsu làm chúng ta phải ngạc nhiên: « Tôi nói cho các ông biết: người này (tức người thu thuế) , khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia (tức người Pharisêu) thì không » . Ta thấy phán đoán của Đức Giêsu về sự công chính khác hẳn cách phán đoán của chúng ta. Đương nhiên, chúng ta phải lấy cách phán đoán của Ngài làm mẫu mực cho cách phán đoán của ta, và phải chỉnh lại cách suy nghĩ của ta theo cách của Ngài.

2. Tự đề cao mình khiến mình bớt giá trị trước mặt Thiên Chúa Như vậy, điều khiến cho một người nên công chính không phải là những việc tốt lành mà họ làm được cho bằng động lực đã thúc đẩy họ làm những việc ấy. Nếu họ làm những điều tốt để được mọi người khen thưởng, khâm phục, chứ không phải vì yêu Chúa hay thương tha nhân mà làm, thì những điều tốt ấy chỉ có giá trị trước mặt người đời chứ không chắc có giá trị trước mặt Thiên Chúa . Đức Giêsu đã nói về những hành động ấy như sau: « Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng. Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen . Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi » (Mt 6,12). Làm điều tốt đẹp để được khen đó là làm vì một động lực vị kỷ, tự kiêu. Đương nhiên, chẳng mấy ai trên đời thoát được tính vị kỷ, muốn tự đề cao mình: người ta chỉ hơn nhau ở chỗ vị kỷ ít hay nhiều mà thôi. Muốn nên thánh, ta phải tập luyện hằng ngày để tính vị kỷ hay tính thích được đề cao của ta càng ngày càng giảm đi. Sự thánh thiện và tính vị kỷ hay « độ phình lớn của cái tôi » tỷ lệ nghịch với nhau . Lời của Gioan Tẩy giả có thể coi là một định luật: « Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi » (Ga 3,30). Cái tôi của ta càng nhỏ đi thì đời sống thần linh hay sự sống của Đức Kitô càng lớn lên trong ta , và giá trị của ta trước mặt Thiên Chúa càng lớn. Ngược lại, cái tôi của ta càng phình lớn, thì sự sống của Đức Kitô ở trong ta hay giá trị của ta trước mặt Thiên Chúa càng nhỏ đi. « Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên » (Mt 23,12; Lc 14,11; 18,14). Người nào hay tìm cách để được mọi người đề cao, khen thưởng thì cũng thường tự coi mình là hơn người và thích chê bai người khác: hạ người khác xuống để mình được nổi bật lên. Những người này dù có làm được biết bao điều tốt lành, thực tập biết bao nhân đức để được người khác nể phục, dù có lên được những bậc thang cao trong Giáo Hội hay xã hội thì vẫn là con số 0 trước mặt Thiên Chúa. Họ không được Thiên Chúa coi là người công chính.

3. Tự hạ, tự coi thường mình
lại làm mình tăng giá trị lên trước mặt Thiên Chúa
Qua bài Tin Mừng ta thấy tội lỗi hay những hành động xấu không làm người ta mất sự công chính cho bằng tính tự mãn hay kiêu ngạo . Người thu thuế đã thật sự phạm nhiều tội lỗi, nên đã làm mất đi sự công chính của mình. Nhưng hành động khiêm nhường, biết nhìn nhận sự bất chính và tội lỗi của mình đã lập tức biến anh ta nên người công chính trước Thiên Chúa, bất chấp quá khứ tội lỗi của mình. Tương tự như vậy, tên trộm bị đóng đinh bên phải Chúa, tôi nghĩ chưa chắc anh ta đã phạm ít tội hơn tên trộm bên trái, nhưng chỉ vì anh ta nói được câu: « Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái! » mà đã được Đức Giêsu hứa « Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng » (Lc 23,4143). Ôi kỳ diệu thay sự khiêm nhường tự hạ , biết nhìn nhận thực trạng hèn kém của mình! Nó có khả năng biến tội lỗi thành thánh thiện, bất chính thành công chính! Ngược lại, cũng thật quái lạ, tính kiêu ngạo, tự mãn, tự đề cao, có thể biến những điều tốt thành xấu, công chính thành bất chính!

4. Bài học về khiêm nhường tự hạ Nếu thế thì tại sao ta lại không rút ra một bài học cho mình? cho lý tưởng nên thánh của mình? Khiêm nhường, tự hạ, quên mình luôn luôn được coi là nền tảng của sự thánh thiện, của nhân đức . Tất cả những tài năng, nhân đức dường như không có giá trị tự nó trước mặt Thiên Chúa. Chúng chỉ trở nên có giá trị khi đi chung với sự khiêm nhường, tự hạ . Cũng như những số 0 (không, zéro) dù nhiều tới đâu cũng chẳng làm cho con số do chúng tạo thành có giá trị gì. Nhưng nếu chúng được dẫn đầu bởi số 1, thì lập tức mỗi số 0 sau đó đều trở nên có giá trị: càng nhiều số 0 đi sau số 1, thì giá trị con số do chúng tạo thành càng tăng lên. Mỗi số 0 sau số 1 đều làm cho con số đã có tăng giá trị lên gấp 10 lần. Đức Gioan-Phaolô I (1912-1978) nói: « Trên thiên đàng không thiếu bọn thu thuế và đĩ điếm nhưng không có kẻ kiêu ngạo. Dưới hỏa ngục có cả hồng y giám mục nhưng không có người khiêm nhường ». Nếu đúng như vậy thì bí quyết để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu là khiêm nhường, tự hạ, và ai khiêm nhường tự hạ thì dường như không thể xuống hỏa ngục được! Còn muốn xuống hỏa ngục thì chỉ cần kiêu ngạo là đủ, và kẻ kiêu ngạo thì dường như không thể vào thiên đàng được! Trong cuộc đời, ta thấy có nhiều người sống trong sạch như các thiên thần, hoặc làm được rất nhiều việc lành như những vị thánh, nhưng họ lại kiêu ngạo, tự hào không kém gì ma quỉ về sự tốt lành của họ. Chính vì thế, họ không phải là đối tượng của Nước Trời. Thật là uổng, tất cả những nhân đức họ tập được, những việc lành họ làm được, chỉ vì kiêu ngạo mà biến thành « công dã tràng »! Như vậy, ai tự đưa mình lên thì coi chừng kẻo bị hạ xuống tới tận hỏa ngục! Còn ai tự hạ mình xuống thì rất có thể sẽ được đưa lên tới tận thiên đàng! Đức Giêsu đã chẳng nói: « Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu » sao? (Mc 10,31; xem Mt 20,16; Lc 13,30). Vậy thì dại gì mà kiêu căng, khoe khoang, tự mãn! dại gì mà lên mặt chê bai kẻ khác! Chính khi ta chê bai kẻ khác với mục đích để mình nổi bật lên, thì hành động của ta lại trở thành đáng chê hơn kẻ bị ta chê!
Về sự khiêm nhường và kiêu ngạo, Karl Marx nói: « Khiêm nhường bao nhiêu đều không đủ, Chỉ chút kiêu ngạo cũng quá nhiều! » Vì thế, hãy khiêm nhường được chừng nào hay chừng nấy, và đừng kiêu căng hay tự mãn chút nào cả!