Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

Phúc trường sinh


Tin Mừng theo thánh Gioan 6,36-39
Khi ấy, Ðức Giêsu nói rằng: "Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! (36) Nhưng tôi đã bảo các ông: các ông đã thấy tôi mà không tin. (37) Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, (38) vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Ðấng đã sai tôi. (39) Mà ý của Ðấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.
Đó là lời Chúa

Tần Thủy Hoàng, một hoàng đế thời danh ở Trung quốc, sống trước công nguyên quãng 200 năm. Ông rất sợ chết. Vì muốn được trường sinh bất tử, nên ông tìm đủ mọi cách để được cải lão hoàn đồng. Một hôm, các chiêm tinh gia kể cho ông nghe về một hòn đảo thần tiên ở biển Đông, dân cư ở đây đã khám phá ra bí quyết trường sinh. Tần Thủy Hoàng liền phái một số tầu thuyền chất đấy châu báu lên đường, hy vọng đổi được bí quyết trường sinh. Nhưng dân chúng không đổi cho ông bí quyết trường sinh của họ. Thế rồi ông lo xây nhà mồ như cung điện nguy nga rộng lớn, lấy châu ngọc làm tinh tú, lấy thủy tinh làm sông ngân hà, lấy vàng bạc lát tường và chôn sống hàng trăm cung nữ trong đó, để kiếp sau được sống như thần tiên. Nhưng kẻ tàn bạo ấy chỉ làm vua được hơn chục năm và chưa đủ tuổi thọ thì đã chết. 
Kính thưa quý ông bà và anh chị em, cách riêng tang gia rất thân mến,
Trường sinh bất tử là giấc mơ ngàn đời của con người. Và cứ mỗi lần một người thân giã từ cõi thế, thì ước mơ được sống mãi lại càng giầy vò con người dữ dội hơn. Các bậc vua chúa lại càng ước ao được sống lâu để tận hưởng vinh hoa của họ, để hưởng sự phú quí. Nhưng cuộc sống quá vắn vỏi không đáp ứng được nguyện vọng trường sinh của mình. Vì vậy, người ta tìm đủ mọi cách để kéo dài cuộc sống theo ý muốn mà cho đến nay vẫn chưa thành công.
Trong truyền thống Do Thái, sự sống đời đời cũng là mối bận tâm hàng đầu. Người Do thái thời Chúa Giesu cũng khát khao đi tìm liều thuốc trường sinh. Họ cũng long đong lận đận nay đây mai đó để cố tìm cho được liếu thuốc quý này. Cha ông họ từ thời xa xưa cũng đã miệt mài tìm kiếm sự sống đời đời nhưng chưa thấy. Và vì thế họ đã thắc mắc với Chúa Giêsu rằng: "Cha ông chúng tôi đã ăn Manna nhưng rồi cũng đã chết trong sa mạc. Tin Mừng của thánh Máccô 10,17-22 nói về chàng thanh niên nọ rất giàu có nhưng anh vẫn cảm thấy còn thiếu điều gì đó và anh đã mạnh dạn tìm đến với Chúa Giêsu. Khi gặp Ngài, anh hỏi: "Thưa Thầy tôi phải làm gì để được sự sống đời đời". Chúa Giêsu đã cho anh biết: "muốn có sự sống đời đời, hãy về bán tất cả những gì anh có rồi đi theo Ngài". Anh đã không thực hiện điều đó, vì anh ta quá giàu, không muốn phải xa rời của cải.
Quả thật, không thể có sự sống đời ở ngoài Thiên Chúa. Nơi bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu đã khẳng định rằng: "Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! (. . . ) Tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết".
Đây là niềm an ủi rất lớn cho chúng ta những người tin vào Đức Kitô, và cách riêng là niềm an ủi cho gia đình ông Giuse. Chính Đức Kitô đã mang lại cho chúng ta niềm hy vọng; đó là được sống đời đời với Ngài nếu biết tin vào Ngài. Và như thế, sự chết không phải là sự chết đơn thuần, sự chết không phải là con đường cụt, không lối thoát. Thiên Chúa không dựng nên chúng ta một cách vô ích, Người không dựng nên chúng ta để rồi biến chúng ta ra hư vô.
Ông Giuse đã từ biệt mọi người. Chỉ còn vài giờ nữa thôi, chúng ta sẽ không còn thấy được thân xác của ông nữa. Trước con mắt người đời, kể như mọi sự ra như không. Nhưng với niềm tin, thì ông Giuse vẫn đang hiện diện. Và Tin Mừng hôm nay mang lại niềm an ủi cho thân nhân, cho gia đình, những người còn đang sống. Không biết đã có khi nào ông Giuse suy niệm
Ông đã chuẩn bị cho ngày trở về với Chúa hôm nay cả một quá trình sống đức tin. Tin vào lời của Chúa và sống theo Lời của Ngài. Ông đã chuẩn bị cho ngày trở về với Chúa hôm nay bằng việc đón nhận các bí tích. Hơn một năm nay tôi biết ông, sáng thứ sáu đầu tháng nào chúng tôi đưa Mình Thánh đến cho ông, ông cũng luôn chuẩn bị sẵn sàng. Chỉ có sáng thứ cuối cùng, tức là tuần trước là ông phải năm để rước Mình Thánh.
Tin tưởng vào lời hứa của Chúa Giesu, hôm nay ông Giuse sẽ được Ngài tiếp nhận. Vì tất cả những kẻ Chúa Cha đã ban cho Ngài, Ngài sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết".
Thiên Chúa là Đấng rất nhân từ thương xót nhưng cũng rất mực công minh. Thưởng công cho người lành và ra hình phạt cho kẻ tội lỗi. Thương tiếc ông Giuse, chúng ta hãy thêm lời cầu nguyện cho ông, chúng ta dâng những hy sinh cho ông. Xin Chúa nhân từ lượng thứ những thiếu sót của ông khi còn tại thế, để ông sớm được hưởng nhan thánh Chúa.

MỌI SỰ ĐÃ HOÀN TẤT
Ga 19,28-30

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Gioan
8Khi ấy, Đức Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: "Tôi khát! " 29 Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. 30 Nhắp xong, Đức Giê-su nói: "Thế là đã hoàn tất! " Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.
Đó là lời Chúa.

Văn thiên Trường có câu:
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
(có nghĩa là)
Con người từ cổ ai không chết
Để lại lòng son rạng sử xanh.

Kính thưa…
Đã là người ai cũng phải chết, vì có thời sinh thì cũng có thời tử, có hồi mở thì cũng có hồi kết. Kết thúc này là tất yếu vì thân xác vật chất không đi ra ngoài định luật hữu sinh tất hữu tử. Tuy nhiên, có nhiều cách kết thúc cuộc đời. Có những kết thúc như đứt gánh giữa đường. Có những mùa xuân chấm dứt chưa tròn tuổi. Có những cuộc ra đi bất đắc dĩ nhưng cũng có những kết thúc được tròn đầy, đúng thời đúng điểm, như hoa quả chín vàng đến độ.
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy: Đức Giêsu đã kết thúc cuộc đời dương thế của Người một cách tốt đẹp. Lời cuối cùng Ngài thốt ra trên thập giá: “Mọi sự đã hoàn tất” là một lời loan báo sứ mạng thành công. Đức Giêsu xuống trần để thực hiện thánh ý Chúa Cha trong việc cứu nhân độ thế. Trọn cuộc đời Ngài hiến mình vâng phục thánh ý Chúa Cha vì tình yêu thương nhân loại. Ngài đã vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá. Ngài đã vượt qua tất cả mọi khó khăn mọi thử thách; ngài đã vượt qua cái chết đau thương tủi nhục để đi đến cùng lý tưởng của mình. Giây phút Ngài trút hơi thở cuối cùng là giây phút chiến thắng. Đức Giêsu hoàn chiến thắng sự chết. Đức Giêsu hoàn thành sứ mạng và yên tâm ra đi, ra đi để trở về cùng Thiên Chúa Cha.
Thày Gioan Baotixita, người đang hiện diện giữa cộng đoàn để dâng lời tạ ơn Chúa với những thánh lễ cuối cùng nơi thánh đường này. Rồi ngày mai thày sẽ từ biệt chúng ta, từ biệt cộng đoàn tu viện, từ biệt cộng đoàn giáo xứ thân yêu để ra đi. Đây là cuộc chia ly thật đau thương. Nhưng nhìn lại cuộc đời của thày chúng ta dám chắc rằng hôm nay thày cũng có thể mượn lời của Chúa Giêsu mà nói “Mọi sự đã hoàn tất”. Thày Gioan Baotixita đã hoàn tất sứ mạng đời mình, thày đã hoàn tất sứ mạng đời mình với tuổi đời 84, ngót một thế kỷ. Cuộc đời dương thế của thày thật tròn đầy. Người đời có câu "Thất thập cổ lai hy", từ cổ tới kim sống tới 70 tuổi đã là hiếm. Nhưng Thày đã vượt qua ngưỡng 70 này thật xa. Thày đã hoàn tất sứ mạng đời mình với cuộc hành trình dài, dài về không gian và dài về thời gian. Sinh bắc tử nam, sinh vào đầu thế kỷ 20 tại Hưng Yên Bắc Việt và tử vào đầu thế kỷ 21 tại TPHCM. Thày đã hoàn tất sứ mạng đời mình với việc bổn phận của một người tu sĩ Nhà Chúa. Có lẽ khá nhiều người đang hiện nơi đây đã nhìn thấy hình ảnh của thầy, một con người cần mẫn trong công việc, một con người luôn cố gắng hết mình để chu toàn ơn gọi theo tinh thần của Tin Mừng, mặc dù sức khỏe của thày không được như ý.  
Hôm nay, Thày Gioan Baotixita đã hoàn tất sứ mạng của Thày một cách tốt đẹp. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa với thày, vì Chúa đã cho thày được sống trọn kiếp người với tuổi đời thật mãn nguyện, non một thế kỷ. Tuy nhiên, là con người, với bản tính yếu đuối, chắc hẳn thày cũng có những lỗi lầm những thiếu sót khi còn tại thế. Chúng ta cầu nguyện thật nhiều cho thày; đồng thời dâng những hy sinh cho thày. Xin Chúa thương hoàn tất nơi thày những gì mà lẽ ra thày đã phải hoàn tất nhưng kịp chưa hoàn tất. Amen.


THÂN  PHẬN  CON  NGƯỜI
Tin Mừng Chúa Giêsu Kito theo thánh mt
Dụ ngôn mười trinh nữ
"Bấy giờ, Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn của mình ra đón chú rể. (2) trong mười cô đó, thì có năm cô dại và năm cô khôn. (3) Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. (4) Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. (5) Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả. (6) Nửa đêm, có tiếng la lên: "Kìa chú rể, ra đón đi!" (7) Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn. (8) Các cô dại nói với các cô khôn rằng: "Xin các chị cho chúng em chút dầu của các chị, vì đèn của chúng em tắt mất rồi!" (9) Các cô khôn đáp: "Sợ không đủ cho chúng em và các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn". (10) Ðang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. (11) Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: "Thưa Ngài, thưa Ngài! mở cửa cho chúng tôi với!" (12) Nhưng Người đáp: "Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô!" (13) Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.
Đó là lời Chúa
Nhân chuyến tham quan con tàu buôn lớn, một nghà doanh nghiệp hỏi người thủy thủ :
-          Ông của anh làm nghề gì và chết ở đâu ?
Người thủy thủ thưa :
-          Ông của tôi làm nghề thủy thủ và chết vì đi biển.
Nhà doanh nghiệp lại hỏi :
-          Vậy cha của anh làm nghề gì và chết ở đâu ?
Người thủy thủ thưa :
-          Cha tôi cũng làm nghề thủy thủ và cũng chết vì đi biển.
Nhà doanh nghiệp bỡ ngỡ hỏi :
-          Thế mà anh dám làm nghề thủy thủ, và hằng ngày đi biển sao ?
Người thủy thủ hỏi lại nhà doanh nghiệp :
-          Xin hỏi : Ông của ngài làm nghề gì và chết ở đâu ?
Nhà doanh nghiệp trả lời :
-          Ông tôi làm doanh nghiệp và chết trên giường.
Người thủy thủ lại hỏi :
-          Vậy cha của ngài làm nghề gì và chết ở đâu ?
Nhà doanh nghiệp trả lời :
-          Cha tôi cũng làm doanh nghiệp và chết ở giường.
Người thủy thủ tỏ vẻ bỡ ngỡ và hỏi :
-          Thế mà ông dám làm nghề kinh doanh, và mỗi đêm dám ngủ trên giường sao ?
Câu truyện trên đây nhắc chúng ta rằng: mọi người sang, hèn, giầu, nghèo, giỏi dốt, ở bất cứ nơi đâu, làm bất cứ nghề gì, thì rồi cũng có ngày phải bỏ cõi đời này để trở về thế giới bên kia. Mọi người đều phải chết, chỉ có một điều là chúng ta phải có thái độ nào trước cái chết.
Chúa Giêsu đã nhiều lần nhắc nhở chúng ta về sự chết, về việc Chúa đến bất ngờ vào lúc ta không ngờ, vào giờ ta không biết. Để chỉ cho chúng ta biết phải chuẩn bị cho giờ chết thế nào, trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn mười trinh nữ đi đón chàng rể.Tất cả các cô đều mang đèn và dầu nhưng chỉ có năm cô mang dầu dự trữ còn năm cô thì không. Năm cô mang đèn và có dầu dự trữ được gọi là năm trinh nữ khôn ngoan, còn năm cô mang đèn mà không có dầu dự trữ được gọi là năm cô khờ dại. Vì chàng rể đến chậm nên chỉ những cô mang dầu dự trữ còn đèn cháy sáng do đó họ được cùng chàng rể vào dự tiệc cưới còn năm cô kia thì không. Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn chỉ cho chúng ta thái phải có trước sự chết, đó là thái độ của 5 cô trinh nữ khôn ngoan, thái độ của 5 trinh nữ khôn ngoan là thái độ sống tỉnh thức, thái độ của 5 trinh nữ khôn ngoan là thái độ sống sẵn sàng.
Cuộc đời kitô hữu chẳng khác nào như một cuộc nghinh đón chàng rể. Chàng rể đây chính là Đức Kitô, vị thẩm phán. Chàng rể sẽ “đến chậm”, nghĩa là đến vào lúc người ta không ngờ. Rồi khi chàng rể đến, chàng sẽ “đóng cửa lại”. Điều này có nghĩa là : người ta chỉ chết một lần, không có cơ hội làm lại cuộc đời nếu đã không có sự chuẩn bị, như 5 cô trinh nữ khôn ngoan. Nếu không sẵn sàng, không tỉnh thức người ta sẽ không có cơ hội được về dự tiệc cưới, được vào Nước Trời. Chỉ những người tỉnh thức mới được vào nước trời. Tỉnh thức là không ngừng làm việc. Ngọn đèn đức tin chỉ chiếu sáng khi được nuôi dưỡng bằng việc lành phúc đức.
Nếu thế, Bà Maria đang hiện diện với chúng ta trong thánh lễ này là một linh hồn tỉnh thức. Bà đã tỉnh thức trong suốt tám mươi hai năm cuộc đời làm người và làm con Chúa. Bà đã tỉnh thức trong việc chuyên chăm xây dựng tổ ấm gia đình lo cho hạnh phúc của con cái cháu chắt. Bà đã tỉnh thức trong việc xây dựng cho giáo xứ bằng lời cầu nguyện bằng việc lành phúc đức và bằng những đóng góp của cải vật chất. Với sự chuẩn bị thật chu đáo của bà Maria về việc lãnh các bí tích chúng ta hy vọng rằng hôm nay, bà sẽ được thanh thản bước vào nhà Chúa. Với ngọn đèn tỉnh thức của bà Maria qua những việc lành khi bà còn sống chắc chắn rằng hôm nay Chúa sẽ nghênh đón bà vào dự tiệc vui muôn đời.
Hôm nay, chúng ta cùng cầu nguyện cho bà, và cùng dâng lời tạ ơn Chúa với bà, nhưng đây cũng là dịp nhắc nhở chúng ta, hãy nhìn vào ngọn đèn của chính mình. Là Kitô hữu, mỗi người chúng ta đã có một cây đèn đức tin. Chỉ có điều là đèn của chúng ta có luôn cháy sáng hay không? Nếu chúng ta ơ hờ với đời sống đạo là đèn đức tin của chúng ta đang tàn lụi. Nếu chúng ta dửng dưng với việc lãnh các bí tích như hòa giải và thánh thể là đèn đức tin của chúng ta đang khô dầu. Nếu chúng ta không chuyên chăm cầu nguyện, không thi hành việc bác ái là đèn đức tin của chúng ta đang tắt ngúm.
Chăm sóc cho đèn đức tin luôn cháy sáng đó là bổn phận của mỗi người chúng ta phải làm hằng ngày. Phải không ngừng thi hành bác ái. Phải chuyên chăm cầu nguyện. Phải canh tân và biến đổi đời sống để khi đến lượt chúng ta tới Đức Kitô, Ngài sẽ ân cần tiếp đón chúng ta.
Lạy Chúa xin thương nhận linh hồn Maria vào nước trời. Amen.


CHUẨN BỊ GIỜ CHẾT
Không ai biết chết là gì. Vì không ai có kinh nghiệm về cái chết mà còn sống trên đời, mặc dù cái chết là một phần của sự sống. Con người có sinh có tử. Đó là luật của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa đã an bài. Tuy nhiên, không ai có thể biết được mình chết vào lúc nào và ở đâu? Ý Chúa khôn ngoan vô cùng không muốn cho ta biết trước cái chết là để mưu ích cho ta và cho xã hội. Thật vậy nếu biết trước giờ chết đâu cần phải ăn ngay ở lành làm chi? Và như thế xã hội sẽ đầy dẫy sự ác, đầy dẫy bất công, tàn bạo.
Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã nhiều lần nói về cái chết, về sự sống đời sau. Hôm nay, một lần nữa chúng ta lại được nghe Chúa dạy: Phải chuẩn bị cái chết bằng một cuộc sống tỉnh thức qua dụ ngôn người đầy tớ tỉnh thức.
Ông chủ được nói tới trong dụ ngôn chính là Thiên Chúa. Người đầy tớ là linh hồn mỗi người. Ông chủ đi vắng là thời gian chúng ta sống ở đời này. Khi ông chủ trở về, đó chính là giờ chết của mỗi người chúng ta. Cũng như cuộc trở về đầy bất ngờ của Ông chủ, giờ chết đến không ai biết trước được. Bữa tiệc mà ông chủ thưởng cho đầy tớ trung tín chính là hạnh phúc Thiên Đàng. Kẻ diễm phúc được dự là những người có tâm hồn tỉnh thức.
Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu không định nghĩa cho chúng ta tỉnh thức là gì mà Người chỉ diễn tả tỉnh thức bằng ba việc trong trạng thái động: không ngủ, thắt lưng và cầm đèn cháy sáng.
Không ngủ nói lên tình yêu mến gắn bó nên một với Chúa. Bao lâu chủ chưa về thì chưa thể an tâm đi nghỉ. Nhiều người có kinh nghiệm này, khi gia đình chờ đợi một người thân vắng nhà trở về, người thân chưa về mọi người trong gia đình chưa thể an tâm. Một con người có tâm hồn yêu mến Chúa thì luôn luôn thao thức băn khoăn cho đến khi gặp được Người. Vì Chúa là lẽ sống nên linh hồn không thể sống thiếu Chúa. Vì Chúa là hạnh phúc nên linh hồn chẳng thể an giấc khi chưa gặp Ngài. Vì Chúa là tất cả nên linh hồn sẵn sàng quên bản thân mình vì Chúa.
Thắt lưng nói lên thái độ phục vụ quên mình, người Do thái mặc áo choàng dài bên ngoài và áo lót bên trong. Vì thế, khi phục vụ họ phải cởi bỏ áo ngoài và thắt lưng cho áo trong nên gọn gàng. Như chúng ta đã thấy trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu cởi áo ngoài lấy khăn thắt lưng để có thể đi rửa chân cho các Tông Đồ. Tấm áo tượng trưng cho danh dự. Khi người ta cởi bỏ áo ngoài cũng có nghĩa là cởi bỏ cái tôi, cởi bỏ tự ái, từ bỏ tiện nghi của mình để phục vụ người khác. Như thế thắt lưng là từ bỏ chính mình vì Chúa. Thắt lưng là vui lòng hủy mình ra không để Chúa hoàn toàn chiếm đoạt và Dâng hiến trọn vẹn bản thân để Chúa sử dụng.
Thắp đèn nói lên tính lo xa hay là sự chuẩn bị chu đáo. Vì chủ trở về lúc đêm khuya, nên tôi tớ cần có sẵn đèn để soi đường. Vì chủ trở về bất thình lình, nên tôi tớ cần có sẵn đèn đầy dầu để đèn không bị tắt. Thắp đèn là đem hết khả năng phục vụ Chúa. Tìm mọi cách để phục vụ cho thật tốt đẹp. Dâng hiến tất cả để Chúa được tôn vinh.
Như thế, tỉnh thức nói lên lòng yêu mến Chúa thiết tha, sẵn sàng làm mọi việc vì Chúa, sẵn sàng quên mình vì Chúa.
Bà Maria đang cùng với cộng đoàn chúng ta dâng thánh lễ tạ ơn và cầu nguyện cho bà hôm nay là một linh hồn tỉnh thức, vì tỉnh thức bà đã trung thành với Chúa, với Giáo Hội suốt 79 năm nơi dương thế, làm người và làm con Chúa. Cuộc đời có những lúc thuận buồm xuôi gió có những lúc vất vả gian nan, có những ngày tháng phải bôn ba vì cuộc sống nhưng bà Maria vẫn trung thành với Chúa và với Giáo Hội.
Vì tỉnh thức bà Maria đã dành tất cả những thời giờ cao quý nhất cho Chúa. Bà đã dành trọn cho Chúa thời giờ, sức lực với hết cả tâm tình. Có thể nói được rằng cuộc đời bà Maria đã sống vì Chúa và sống cho Chúa hơn là sống vì mình.
Vì tỉnh thức bà Maria đã thắt lưng phục vụ Chúa và Giáo Hội đến quên bản thân mình. Nhiệt thành phục vụ Chúa nhiều năm bằng việc chăm lo quán chuyến gia đình để cho chồng phục vụ giáo xứ trong chức vụ làm trùm. Vì tỉnh thức bà Maria đã thắt lưng phục vụ Giáo Hội tại nơi mình sinh sống trong việc tham gia các hội đoàn của giáo xứ, cũng như làm công tác tông đồ giúp cho những vùng sâu vùng xa đang thiếu thốn.
Hôm nay, Chúa gọi bà Maria về giữa lúc bà đang tỉnh thức, đang thắt lưng gọn gàng, đang cầm đèn cháy sáng chờ đợi Chúa. Đúng như Chúa đã dạy trong Tin Mừng, hôm nay Chúa sẽ đặt bà Maria vào bàn tiệc Nước Trời và mời bà thưởng thức hạnh phúc Thiên Đàng.
Thương tiếc bà Maria, một người đã hết mình phục vụ Chúa và tha nhân, chúng ta hãy noi gương bà luôn sống tỉnh thức trong tình yêu mến Chúa thiết tha, trong sự hy sinh quên mình phục vụ Chúa và Giáo Hội, biết dâng cho Chúa tất cả tất những gì cao quý nhất trong cuộc đời của chúng ta. Đó là cách chúng ta chuẩn bị tốt nhất cho chuyến ra đi của chúng ta. Tất cả chúng ta đang quy tụ nơi đây hôm nay, rồi ngày mai chúng ta cũng phải ra đi gặp Chúa như bà hôm nay.
Lạy Chúa xin cho linh hồn Maria được nghỉ yên muôn đời. Amen.



TỈNH THÚC VÀ SĂN SÀNG

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Lc 12,35- 40

 (35) “Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. (36) Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay. (37) Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ. Thầy bảo thật anh em: chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ. (38) Nếu canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ. (39) Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông đã không để nó khoét vách nhà mình đâu. (40) Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến”.
Đó là lời Chúa.

Kính Thưa Tang Quyến, Kính Thưa cộng đoàn,
Sự ra đi của Bà Anna là một nỗi đau thương, mất mát lớn cho gia đình. Là con, là cháu, là thân nhân, ân nhân bạn bè lối xóm chúng ta buồn phiền, chúng ta khóc thương người quá cố là phải lẽ. Nhưng đức tin Kitô giáo cho chúng ta niềm hy vọng. Vì chết không phải là chấm dứt cuộc đời mà là cửa ngõ mở cho ta đi vào cõi vĩnh hằng.
          Trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu nhắc cho các môn đệ một tư tưởng là phải sẵn sàng chờ đợi Chúa đến trong ngày sau hết. Ngài dùng một hình ảnh quen thuộc và dễ hiểu về một người đầy tớ đợi ông chủ đi ăn cưới về vào bất cứ lúc nào và phải mở cửa cho ông ngay. Khác với tập tục lễ cưới của chúng ta, người Do thái có thói quen đi ăn cưới vào ban đêm, bắt đầu từ khi mặt trời lặn. Có khi tiệc cưới kéo dài tới gần sáng. Người đầy tớ có trách nhiệm phải cầm đèn chờ ở cửa, khi chủ về thì mở cửa cho ông. Phúc cho đầy tớ nào còn thức chờ chủ về, ông sẽ khen thưởng, ngược lại, khi ông chủ về mà thấy đầy tớ còn bê trễ thì sẽ bị phạt.
Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ hiểu rằng ông chủ đây chính là Ngài, còn đầy tớ là các môn đệ. Ngài sẽ đến gọi các ông về với Ngài vào bất cứ lúc nào. Công việc của các ông là phải luôn sẵn sàng chờ đợi Chúa đến. Tỉnh thức không có nghĩa là ngồi một chỗ khoanh tay mà đợi chờ. Để nói lên sự tỉnh thức đích thực, Chúa Giêsu  dùng hình ảnh của một người đầy tớ đêm ngày trung thành với công việc được chủ trao phó. Sự tỉnh thức mà Chúa Giêsu kêu mời là sự tỉnh thức đích thực, một sự tỉnh thức (tích cực) đòi hỏi lao tác và phấn đấu. Sự tỉnh thức mà Chúa Giêsu kêu mời là sự tỉnh thức với những công việc bổn phận của mỗi người phải thực hiện mỗi ngày. Bổn phận đối với Chúa. Bổn phận đối với chính mình và bổn phận đối với tah nhân.
          Một người thuộc bộ lạc miền núi chưa từng thấy ánh sáng văn minh. Một hôm ông ta tới thăm một đô thị. Ngay đêm đầu tiên, ông đã giật mình thức giấc vì tiếng trống vang cùng khắp đô thị. Sau khi được người chung quanh cho biết đó là tiếng trống báo động về một cuộc hỏa hoạn vừa xẩy ra tại một khu phố. Người dân miền núi nhìn về ngọn lửa đang bốc cháy tại một góc trời, rồi ông trở lại giường ngủ tiếp.
          Trở về làng, ông báo cáo với các chức sắc trong làng rằng: người dân thành thị có một hệ thống chữa cháy rất kỳ diệu: khi có hoả hoạn, người ta chỉ cần đánh trống là ngọn lửa được dập tắt tức khắc. Nghe thế, các chức sắn trong làng sai người đi mua đủ mọi loại trống phát cho dân làng. Không bao lâu sau đó, hoả hoạn xẩy đến trong làng, tất cả dân làng đều đem trống ra khua inh ỏi vì tin rằng tiếng trống sẽ xua đuổi được thần lửa. Thế nhưng, ngọn lửa cứ vô tình thiêu rụi từ căn nhà này đến căn nhà khác trước cái nhìn ngỡ ngàng và thất vọng của mọi người.
          Tình cờ ghé thăm bộ lạc và được nghe kể lại diễn tiến cơn hoả hoạn, một người dân thành thị mới giải thích cho dân làng biết  “Các người thật ngây ngô, người ta đánh trống để đánh thức dân chúng và kêu gọi họ tích cực tham gia chữa cháy, chứ không ngồi đó mà chờ ngọn lửa tắt đâu”.
      Chúng ta đừng ngây ngô như người miền núi trên đây: tiếng trống không làm cho ngọn lửa  tắt, mà chỉ báo cho người ta biết có hỏa hoạn để họ tìm cách dập tắt lửa. Cũng thế, tuy chúng ta đã lãnh phép rửa tội nhưng đó không phải là lá bùa hộ mệnh có thể làm cho chúng ta trở nên thánh thiện hay đương nhiên đưa chúng ta vào thiên đàng, chúng ta cần phải nỗ lực cộng tác với Chúa trong đời sống đức tin cho mạnh mẽ, phải thực thi đời sống đức ái thật nồng nàn. Chính nỗ lực riêng tư của ta cộng tác với Chúa mới dẫn ta vào Nước Trời, bởi vì như Chúa nói: muốn vào Nước Trời phải qua cửa hẹp (Mt, 7,13). Muốn qua được cửa hẹp phải ép mình vào khuôn khổ sống theo lề luật của Chúa. Muốn qua được cửa hẹp phải dẹp bỏ đi những thứ cồng kềnh, bê tha tội lỗi. 
      Hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện cho bà Anna hôm nay là dịp cho mỗi người chúng ta kiểm điểm lại đời sống. Suốt cả Mùa Vọng mời gọi chúng ta hoán cải tâm hồn chờ đón Chúa đến, nhưng nay sắp hết Mùa Vọng rồi không biết chúng ta đã chuẩn bị được tới đâu. Đời sống người Kitô là một cuộc hành trình về nhà Cha. Cuộc hành trình dài hay ngắn do Chúa định, không ai biết. Vì không biết lúc nào nên chúng ta phải sẵn sàng, phải tỉnh thức. Phải luôn ý thức làm tròn bổn phận Chúa trao phó thì chúng ta mới mong được giải thoát.
Là con người, với bản tính yếu đuối, chắc hẳn bà Anna cũng có những lỗi lầm những thiếu sót khi còn tại thế. Là con, là cháu, là thân nhân, ân nhân bạn bè lối xóm chúng ta hãy cầu nguyện cho bà; đồng thời dâng những hy sinh cho bà. Xin Chúa thương tha thứ những lầm lỗi, những thiếu sót để bà được sớm về hưởng nhan thánh Chúa. Amen.

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012


LỄ CẦU CHO CÁC LINH HỒN 2.11

TƯỞNG NHỚ VÀ CẦU NGUYỆN CHO CÁC LINH HỒN
Dù xa xôi cách trở, người Việt Nam vẫn có lệ về với mái nhà chung gọi là “Từ đường” của Gia tộc trong những ngày giỗ, rồi cùng nhau viếng mộ, dâng hương, đọc kinh. Những năm gần đây, điều kiện phương tiện dễ dàng hơn một chút, con cháu ở xa lại kéo nhau về để viếng mộ Ông Bà Cha Mẹ và tham dự Thánh Lễ cầu cho các linh hồn tại nghĩa trang các Giáo xứ. Em tôi cũng thế, ở tận Tân Phú Đồng Nai vì “tha phương cầu thực”, nhưng vào ngày lễ các linh hồn ngày 2-11 năm nào cũng về với Cha Mẹ. Chị TM thì khác, hơn 25 năm rồi, vẫn thường ra đứng trước biển, và nhất là ra đứng trước biển từ sáng sớm ngày 2-11. Có lần chị nói, chị ước gì có một thánh lễ cầu cho các linh hồn được cử hành trên biển…Nghĩa trang, nơi nghìn thu vĩnh biệt của Cha, Mẹ, chồng chị và của nhiều người Việt Nam mình, là biển… Dù được an táng trên đất liền, trên rừng, dưới biển, và dù ở đất khách quê người hay nơi chôn nhau cắt rốn thì tương quan của người chết và sống, sống và chết vẫn luôn khắng khít bởi một sợi dây vô hình của niềm tin và tình yêu.

Việc tuyên xưng đức tin

Đối với các tín hữu công giáo, việc tưởng nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn, đặc biệt là linh hồn những người thân yêu, trước tin là một việc đạo đức bắt nguồn từ Đức Tin: Tin vào sự Phục sinh của Đức Giêsu Kitô, tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa, tin Thiên Chúa cho người đã chết được Phục sinh với Đức Kitô, tin xác loài người sẽ sống lại, tin ngày đoàn viên của con cái Thiên Chúa trong Nước của Ngài, trong đó có sự đoàn viên của các gia đình. Thánh Phaolô đã nói: “Nếu Đức Kitô không sống lại, thì niềm tin của chúng ta đã trở nên vô ích”. Quả thật, ngay đối với một đức tin được cho là vụ lợi, cũng hiểu được điều nầy, vì tôi muốn “tin” là “được cho tôi”. Không ai muốn “tin” để rồi chịu “thiệt thòi” vì niềm tin của mình. Đức Kitô đã nói một cách dứt khoát: “Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.” (Jn 6,40).

Tiến xa hơn trong Đức tin, là tin vào lòng Thương xót của Thiên Chúa. Lòng thương xót ấy bắt nguồn từ công trình sáng tạo,và không chấp nhận cho công trình ấy hư đi, lòng thương xót thực hiện công trình cứu rỗi. Với xác tín ấy, người tín hữu hân hoan vui sống trong tình thương tuyệt vời của Thiên Chúa Cha, quan phòng và gìn giữ. Hơn thế nữa, một cách nào đó, khi cầu nguyện cho các linh hồn, không chỉ là một đức tin vụ lợi, mà các tín hữu còn xác tín niềm tín thác hoàn toàn vào lòng từ ái của Thiên Chúa Cha đối với con cái: “Như người Cha, xót thương con cái mình, Chúa xót thương đối với những kẻ kính sợ người. Vì người biết chúng ta được dựng nên bằng gì, Người vẫn nhớ chúng ta là cát bụi”. (Tv 102,13-14).

Từ xác tín ấy, lời cầu xin trở thành một tuyên xưng đức tin vững chắc về việc phục sinh của người thân yêu và niềm hy vọng đoàn viên của những người sẽ chết và sẽ sống lại trong nước Thiên Chúa.

Việc của chữ Hiếu, chữ Tình

Cầu nguyện cho các người thân đã qua đời cũng là việc làm của chữ Hiếu. Trước đây, lương dân Việt Nam cho rằng khi gia nhập đạo công giáo là người ta bỏ ông bỏ bà, bỏ tổ tiên; bây giờ thì khác nhiều rồi. Họ cũng đã thấy, không những không bỏ ông bỏ bà, mà người công giáo còn nhớ đến ông bà, cha mẹ, các người thân hầu như nhiều lần hơn họ. Câu kinh “Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ cho ông bà cha mẹ cùng các đẳng linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi; Hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. A men” được đọc sau kinh ăn cơm, trong buổi kinh sáng tối, trong những buổi kinh cộng đoàn tại các gia đình, trong những giờ kiệu công khai, trong lễ gia tiên dịp cưới hỏi… Bàn thờ tưởng nhớ ông bà cha mẹ người có đạo cũng hương nhang đèn khói, và anh chị em bà con gia đình tập trung lại để đọc kinh cầu nguyện- chỉ trừ việc cúng kiếng có tính cách mê tín là không thực hiện. Có người lương tham dự thánh lễ và nghe rõ ràng mỗi thánh lễ đều có cầu nguyện cho những “người đã ra đi trước chúng con”. Hơn nữa, dịp lễ giỗ và tháng 11, việc người công giáo xin lễ cầu cho các linh hồn không còn là xa lạ đối với lương dân. Những việc làm ấy, vừa thể hiện tinh thần của điều răn thứ tư: Thảo kính Cha Mẹ, mà còn là một việc truyền giáo, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam. Nhưng, đó mới chỉ là việc bên ngoài.

Việc quan trọng tự bên trong, là Ông Bà Cha Mẹ dù đã khuất đi, nhưng luôn là nơi gặp gỡ của anh chị em trong đại gia đình. Anh chị em, nhất là những người ở xa gia đình, xa quê hương, xa nửa vòng trái đất chẳng hạn không khỏi ngậm ngùi nhung nhớ và sống lại trong lòng họ một thuở “gia đình êm ấm bên Cha bên Mẹ” vào những ngày giỗ chạp ở Việt Nam. Tôi biết có người đã còn cùng tham dự giờ kinh cầu cho Cha Mẹ qua điện thoại, rồi khóc ngon khóc lành vì niềm thương kính Cha Mẹ. Chính vì thế, thiết tưởng, việc tưởng nhớ và cầu nguyện cho Ông Bà Cha Mẹ không chỉ là việc của chữ Hiếu bên ngoài, mà còn là việc hoàn thiện tình huynh đệ huyết nhục chí cốt ở bên trong, để nâng đỡ nhau trong cuộc đời, trên con đường lữ hành tiến về ngày đoàn viên trên trời.

Mặt khác, việc tưởng nhớ cầu nguyện cho người bạn đời đã khuất, có sức làm cho người đã khuất luôn hiện diện trong gia đình, chi phối mọi sinh hoạt, và nhất là làm cho dây ràng buộc hôn nhân công giáo có lý do để duy trì bền vững cho đến ngày tái ngộ trên thiên quốc. Vẫn biết rằng, sẽ không tái ngộ trong tình trạng hôn nhân thế gian, nhưng họ đang giữ cho nhau chu toàn bổn phận đối với con cái của họ. Quả thực, đã có không ít người đang trong tình trạng “thủ tiết” thật thánh thiện, nhờ ơn Chúa qua việc trung thành với giao ước hôn nhân khi người bạn đời đã khuất. Họ không “một thân một mình” chu toàn bổn phận đối với con cái, vì, có thể nói, luôn có sự hiện diện của người bạn đời. Có những người còn được ơn hiến dâng đoạn đời còn lại cho công việc tông đồ, truyền giáo. Họ đang sống trong hân hoan vì người chết vẫn đang sống với họ và đợi chờ đoàn viên trên thiên quốc….

Như vậy, việc tưởng nhớ cầu nguyện cho người thân đã qua đời, là một việc đạo đức của niềm tin, của chữ hiếu và của cả chữ tình.

Việc của tình thương nhân loại

Có những người đang sống nhưng luôn nghĩ đến người đã chết, nhất là những người ở vào độ tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh”. Họ có một tương quan rất gần với những người đã ra đi. Đi ra đường, họ nghĩ đến những người bị tai nạn còn để lại những dấu vẽ trên đường. Tắm biển, họ nhớ tới những người chết trên biển, những người vượt biên ra đi nghìn trùng thăm thẳm. Đang lúc tiệc tùng vui chơi họ nghĩ tới những người đã chết vì quá độ. Trong bửa cơm, họ nhớ những người không còn được sống nhờ lương thực hằng ngày. Đến bệnh viện, họ nhớ tới những người ra đi từ nhà xác, nhớ đến những em bé trong thùng rác. Ở nơi nào, họ cũng có thể nhớ tới các linh hồn kể cả các linh hồn mồ côi. Không chỉ nhớ tới mà còn cầu nguyện nữa. Nghe trống đánh đâu đó, hay nghe chuông nhà thờ buông rời từng tiếng một, họ dừng công việc lại ngay và cầu nguyện cho linh hồn mới qua đời. Gặp một đám tang, họ cầu nguyện cho linh hồn mới qua đời, bất kể là lương hay giáo. Đi ngang qua nghĩa trang, họ cầu nguyện cho các linh hồn….

Đây là một việc đạo đức phát xuất tự bên trong, tự niềm tin Kitô Giáo, còn là một nét văn hóa độc đáo của Kitô Giáo: Sống và Chết một tương quan nhân sinh kỳ diệu: những người sẽ chết cầu nguyện cho những người đã chết. Từ điểm văn hóa nầy, hình thành nhân cách một Tín Hữu Chúa Kitô luôn sống trong thế giới đại đồng của loài người sẽ chết, không phân biệt dân tộc, màu da, tôn giáo, chính kiến, giai cấp. Điểm văn hóa ấy, lại chính là Giáo Lý Chúa Kitô: sống trong tình yêu thương chan hòa, sống để chuẩn bị cho cái chết và sống lại của chính mình.

Việc chuẩn bị cho sự chết của chính mình.

Việc tưởng nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn cũng nhắc nhớ cho chúng ta về cái chết của chính mình và việc phải chuẩn bị cho cuộc vượt qua ấy một cách hoàn mỹ.

“Ai chưa qua chưa phải là người”

Tôi vẫn thích câu nầy trong bài nhạc đời “Thói Đời”. Và suy đi nghĩ lại, thấm thía lắm- cả hai mặt xã hội và tôn giáo. Không biết tác giả bài “Thói Đời” khi viết câu nầy, nhạc sĩ có suy tư hết chiều rộng chiều dài của nó không, có thể có, có thể không, nhưng dù sao, cũng đủ để những người nghe bài hát cảm nhận được một cuộc đời. Động từ “qua” trong câu thật tuyệt. Chỉ một động từ ấy đủ định nghĩa một cuộc đời: qua sinh, đến tử; qua lòng Mẹ, được là con; qua trườn, bò, đến ngồi; qua chập chững đến bước đi; qua trẻ đến già; qua đau khổ tới hạnh phúc, qua tủi nhục đến vinh quang; và qua sự chết mới đầy đủ một kiếp người. Và hơn thế nữa, đối với người công giáo: qua Đức Giêsu Kitô, đến Thiên Chúa, như Chúa Giêsu đã nói : “Chính Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Jn 14,6)

Những người đã chết là những người đã qua đúng một kiếp người. Họ đi về đâu? Hãy hỏi họ thì biết. Hỏi thì được, nhưng không thấy họ trả lời? Vâng họ rất im lặng, nhưng quả thật, họ đã nói tất cả: “Sự chết thì cố định, thì tương đồng, nhưng giờ chết thì bất ngờ, cách chết thì tương dị”- “Sống là chuẩn bị để chết” và “chết là về với Nguồn Cội”

Vâng, những người chưa qua trọn kiếp người bằng cái chết, có thể khó hiểu. Nhưng đối với Kitô hữu, thì hẳn phải biết, vì ngay tự danh xưng Kitô hữu cũng cho thấy họ phải kết hiệp với Đức Kitô để có được danh xưng nầy cách xứng đáng. Mà đã kết hiệp với Đức Kitô, là chắc chắn phải học bài học “chết”. Không chỉ xác nhận sự chết nằm ngay trong sự sống như nhịp chết giữa hai nhịp đập của trái tim, nhưng người Kitô hữu luôn chuẩn bị để tiến dần đến sự chết và vượt qua cái chết của đời mình bằng cách tập chết từng giây phút trong đời theo gương Đức Giêsu Kitô: chết ý riêng của mình, để ý của Thiên Chúa Cha được thực hiện, chết sự sống mình để người khác được sống, chết tự do mình để người khác được tự do… Vì thế, người tín hữu khi nhớ đến và cầu nguyện cho các linh hồn, cũng là lúc họ phải nghĩ đến cổ xe về vĩnh cửu đang chờ họ ở đâu đó, và họ phải chuẩn bị. Và khi đã được chuẩn bị bằng cách tập chết từng ngày với Đức Kitô, thì việc chia tay hay từ bỏ thế gian đối với họ không còn là một bận vướng đáng kể. Họ sẵn sàng về với nguồn cội là Thiên Chúa Cha, vì họ đã cùng vượt qua với Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chiến thắng sự chết bằng sự phục sinh vinh hiển.

Lạy Chúa, tương lai tuyệt vời của các Kitô hữu chúng con là được cùng Đức Giêsu Kitô chết và sống lại vinh hiển, để được hạnh phúc đời đời trong lòng yêu thương của Ba ngôi Thiên Chúa. Nhưng chúng con, cũng như các linh hồn đã ra đi trước chúng con, là vật phàm hèn yếu đuối, xin lòng thương xót Chúa tha thứ muôn tội và ban ơn cứu rỗi. Chúng con kính tin vào lòng thương xót Chúa, và tín thác vào lòng thương xót của Đức Giêsu Kitô, Con Chúa, Đấng đã đổ máu mình chuộc tội chúng con. A men.

Pm. Cao Huy Hoàng



LỄ TẠI NGHĨA TRANG


LỄ TẠI NGHĨA TRANG
Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội mừng lễ kính các thánh nam nữ trên trời. Và thật sự có ý nghĩa khi chúng ta quy tụ nơi nghĩa trang dâng lễ tạ ơn Chúa, mừng kính các thánh ngay trên phần mộ để cầu nguyện cho các đẳng linh hồn. Hầu hết quý ông bà và anh chị em hiện diện nơi đây đều thuộc kinh Tin Kính; đặc biệt khi viếng nhà thờ chúng ta đọc nhiều lần. Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng "Tôi Phép Thông Công", đọc nhiều mà rất người hiểu. Ở đây và lúc này, chúng ta đang hiện tại hóa lời tuyên xưng này.

Phép Thông Công là gì? Thưa đó là sự hiệp thông giữa ba thành phần của Giáo Hội; nói một cách khác là sự hiệp thông giữa ba Giáo Hội: Giáo Hội Khải hoàn, Giáo Hội Thanh luyện và Giáo Hội Lữ hành.

Giáo Hội Khải hoàn là các thánh trên trời, các ngài đã được ân nghĩa với Chúa, được Chúa thưởng công và các ngài đang hưởng niềm vui với Chúa. Các ngài cũng chính là ông bà, cha mẹ, con cái cháu chắt, thân nhân hay ân nhân của chúng ta. Họ là những người được chết lành, chết khi các ngài đã sạch tôi. Cũng có thể khi chết các ngài còn phải thanh luyện nhưng nhờ lời cầu nguyện, nhờ sự hy sinh của chúng ta mà nay các ngài được nên thánh. Vì có rất nhiều thánh nên một năm 365 ngày không đủ để kính riêng từng vị do đó Giáo Hội phải dành riêng ngày hôm nay (01-11) để kính chung toàn thể các thánh. Đây là dịp để chúng ta tạ ơn Chúa. Đây là dịp để chúng ta tri ân các thánh. Và đây cũng là dịp để chúng ta tạ tội, vì chúng ta đã nhiều lần chưa sống xứng đáng với cương vị làm con Chúa, và con cháu các thánh.

Giáo Hội Thanh luyện là những tín hữu đã được Chúa gọi về nhưng còn phải thanh luyện trước khi kết hợp trọn vẹn với Chúa. Muốn thành vàng ròng thì phải qua lửa với nhiệt độ cao và lâu giờ. Cũng vậy, muốn hưởng nhan cực thánh Chúa các linh hồn phải được thanh luyện. Có thể là ông bà, cha mẹ, con cái cháu chắt, thân nhân hay ân nhân của chúng ta cũng đang ở trong tình trạng thanh luyện. Các ngài tuy không phải phạt đời đời nhưng tự thân các ngài không thể lập công để được bớt đi những ngày thanh luyện. Giáo Hội mẹ rất khôn ngoan không ngừng khuyến khích con cái mình nhớ cầu nguyện cho các ngài. Đặc biệt, Giáo Hội dành ngày (02-11) để tưởng nhớ các ngài, và suốt cả tháng 11 này gọi là tháng các linh hồn để cho chúng ta có cơ hội lập công đức dành ân xá cho các ngài.

Giáo Hội Lữ hành là các Kitô hữu đang sống. Chính cộng đoàn chúng ta đây là những phần tử của Giáo Hội Lữ hành. Lữ hành có nghĩa là còn đang sống, đang hoạt động, có khả quyết định được tương lai cho đời mình và có khả năng cứu giúp các linh hồn. Sự hiện diện của cộng đoàn chúng ta hôm nay để kính mừng các thánh và tưởng nhớ các linh hồn nơi đây rất quan trọng. Giáo Hội Lữ hành chúng ta đang làm một nhịp cầu nối kết đất với trời; nối kết các thánh với các linh hồn nơi luyện ngục. Chúng ta mừng lễ các thánh trong tâm tình tạ ơn Chúa, các thánh sẽ chuyển cầu những lời nguyện xin của chúng ta, những ơn này các linh hồn nơi luyện ngục đang khao khát nhưng họ chỉ có thể được hưởng nhờ vào chúng ta.

Vài nét tìm hiểu về giáo lý trên đây đã cho chúng ta thấy việc mừng lễ hôm nay nơi đây thật có ý nghĩa và vai trò làm trung gian của Giáo Hội Lữ hành chúng ta rất quan trọng. Chúng ta tạ ơn Chúa đã cho chúng ta có dịp mừng lễ các thánh; đồng thời, đây cũng là dịp để chúng ta báo hiếu với tổ tiên. Trong suốt tháng này chúng ta cầu nguyện thật nhiều cho người thân của chúng ta và dâng hy sinh cho họ để họ sớm được về quy bên Chúa vui vầy với các thánh.